Home / Cảm thức / Văn đàn Trung Quốc có gì lạ (Phần 1)?
Adayroi - Xả kho sách đón Hè 2017

Văn đàn Trung Quốc có gì lạ (Phần 1)?

Tại Trung Quốc, các nhóm nhà văn có ảnh hưởng quan trọng trên văn đàn chủ yếu có nhóm nhà văn Hà Nam, Quảng Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, nhóm nhà văn miền Tây, nhóm nhà văn Bắc Kinh, nhóm nhà văn Thượng Hải… Do mỗi nhóm nhà văn quá đông về số lượng và trải dài ở nhiều thể loại sáng tác, cho nên tác giả bài viết chỉ khuôn lại ở tiểu thuyết gia trong mỗi nhóm nhà văn.

1. Nhóm nhà văn Hồ Bắc

Nhóm nhà văn Hồ Bắc có sự trầm tĩnh giống như nhà văn Hồ Nam. Dù là trên văn đàn “văn học tầm căn” hay “văn học tiên phong”, nhà văn Hồ Nam đều không có ảnh hưởng quá lớn. Nhà văn Hồ Nam bắt đầu thể hiện thực lực sáng tác của mình từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Dù bản thân nhà văn phủ nhận hay tán thành, Phương Phương và Trì Lợi được công nhận là đại biểu của nhà văn “tân tả thực”; Lưu Tinh Long được cho là đôi cánh của “ngọn sóng xung kích của chủ nghĩa hiện thực”; Đặng Nhất Quang là người duy nhất giành được giải thưởng văn học viết về đề tài quân đội. Đây là nhà văn ngoài biên chế quân đội nhưng lại viết khá sâu sắc và rõ nét về đời sống quân nhân. Tiểu thuyết của Đặng Nhất Quang kết hợp đậm nét dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn.

Trì Lợi

Bốn nhà văn có sở trường thể hiện cuộc sống ở những góc độ khác nhau: Phương Phương viết về phần tử tri thức; Trì Lợi viết về tầng lớp thị dân; Lưu Tinh Long viết về người cán bộ nông thôn; Đặng Nhất Quân viết về người quân nhân… Các nhà văn này đều tích lũy được bề dày vốn sống và dành tâm huyết cho sáng tác mà thành danh chứ hoàn toàn không do ngẫu nhiên. Khi đã thành danh, tiếng vang của họ không một sớm một chiều mất đi. Những năm gần đây, tiểu thuyết của họ ngày càng nổi bật, từ đó nâng cao địa vị văn học của tác gia Hồ Bắc trên toàn quốc.

Trong những năm đầu thế kỷ mới, nhóm tác gia Hồ Bắc đã giành được nhiều giải thưởng văn học lớn. Năm 2003, có 6 giải thưởng trong cuộc thi sáng tác tiểu thuyết ưu tú tổ chức tại Thượng Hải thì nhà văn Hồ Bắc chiếm 3 giải, trong đó có Ánh lửa bỏ chạy (Phương Phương), Sự kiện chó điên (Trần Ứng Tùng), Nam Kinh ở đâu (La Chí Thanh). Ngoài ra, tác phẩm Vết thương ở vịnh Bài Châu (Nhạc Hằng Thọ) giành được giải thưởng Báo cáo văn học toàn quốc; tuyển tập tản văn Tha hương, cố hương của Ôn Tân Giai giành được giải thưởng Tuấn mã trong cuộc thi viết về các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ 7. Còn có hai tác phẩm của nhà văn Hồ Bắc đặc biệt được vinh danh, đó là Thiêu thân tháng Năm của Diệp Mai và tuyển tập phê bình Linh hồn thơ ca xa xôi của Đặng Bân, Hướng Quốc Bình.

Nhà văn trẻ có Trương Chấp Hạo, Điền Chu, Lý Tu Văn… cũng lần lượt giành được giải thưởng sáng tác Văn học Thanh xuânGiải thưởng Thơ ca. Lâm Ngạn, Hoa Tư… là nhà văn viết cho thiếu nhi tương đối sáng chói ở Hồ Nam. Hoa Tư nổi tiếng bởi nhận được giải thưởng của cuộc thi sáng tác Văn học thiếu nhi Băng Tâm năm 2004 với tác phẩm Tình yêu cuồng nhiệt của hai người.

Hùng Chiêu Chính

Năm 2005, nhà văn Hồ Bắc tiếp tục giành được 3 giải thưởng văn học lớn. Trong đợt bình chọn của Giải thưởng văn học Mao Thuẫn lần thứ 6, tiểu thuyết Trương Cư Chính của Hùng Chiêu Chính đã giành được giải thưởng, trong khi trước đó, chính tác phẩm này cũng giành được Giải thưởng tiểu thuyết Diêu Tuyết Căn được tổ chức lần đầu tiên. Trong cuộc bình chọn giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần thứ 3, nhà văn Hồ Bắc nắm hai giải với tác phẩm Vì sao tùng nha hót của Trần Ứng Tùng và Cách mạng châu Vạn Lý của Hồ Thế Toàn và Triệu Du.

Ngoài ra còn có Y Toàn Sinh giành được giải thưởng sáng tác truyện ngắn toàn quốc Kim ma tước lần 1; Hiểu Tô giành được giải thưởng Sáng tác truyện ngắn Bồ Tùng Linh do Báo Văn nghệHiệp hội tác gia Trung Quốc kết hợp tổ chức. Trì Lợi trở thành nhà văn được đông đảo độc giả yêu mến, được giới phê bình đánh giá khá khách quan và được thị trường sách coi trọng. Trong số những tác phẩm được chú ý vào những năm đầu thế kỷ mới có tập thơ Khúc giao hưởng Tam Hiệp của Tạ Khắc Cường khá đặc biệt và gây được sự chú ý lớn của độc giả cũng như các nhà phê bình.

Nhìn từ ý nghĩa, thành tựu của nhóm nhà văn Hồ Bắc những năm gần đây có được là do các nhà văn đã tích lũy được bề dày vốn sống. Tác phẩm của nhà văn Hồ Bắc hướng về đời sống hiện thực. Dù là sự kiện trọng đại của xã hội hay những sự việc vụn vặt đời thường đều là sự ưu tiên đầu tiên của họ. Kiểu tác gia Học viện, Trai phòng của Hồ Bắc không nhiều. Đi tiên phong và đuổi theo thời thượng không phải là ưu thế của nhóm nhà văn Hồ Bắc mà ưu thế của họ chính là sự tích lũy của bề dày kinh nghiệm sống. Kinh nghiệm đó có thể bắt nguồn từ cơ sở nông thôn hay thành thị. Đó chính là bối cảnh sáng tác, cũng là tầm nhìn văn học của họ. Nội dung tác phẩm đầy ắp hiện thực cuộc sống thực tế khiến nhà văn Hồ Bắc được độc giả yêu mến và được các nhà phê bình đánh giá cao. Đó cũng là nguyên nhân khiến tác gia Hồ Bắc được vinh danh trong giai đoạn văn học chuyển hướng chú trọng đời sống hiện thực.

Nhà văn Hồ Bắc tích lũy được khá dày kinh nghiệm sáng tác. Mấy năm gần đây, thành tựu sáng tác tiểu thuyết của nhà văn Hồ Bắc đã cho thấy rõ điều đó. Hầu hết nhà văn Hồ Bắc dựa trên kinh nghiệm sáng tác phong phú để viết tiểu thuyết. Trong thời kỳ mới, tiểu thuyết của nhà văn Hồ Bắc đi lên từ trong quá trình phát triển của truyện ngắn, truyện vừa. Vào niên đại 70, 80 của thế kỷ trước, truyện ngắn, truyện vừa của các nhà văn Lưu Phú Đạo, Du Sam, Lý Thúc Đức, Ương Tuyền, Sở Lương đều giành được nhiều giải thưởng. Bước sang thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, nhà văn Hồ Bắc kiên trì viết truyện vừa và tiếp tục phát huy ưu thế đó trong những năm đầu thế kỷ mới.

Từ tác phẩm Chiếc đàn Phượng hoàng đến Khó phân định của Lưu Tinh Long; Phong cảnh, Ánh lửa bỏ chạy, Yêu hay không yêu đều khắc cốt ghi tâm, Cây cối đều mang sắc thu, Nước đi theo trời của Phương Phương; Cuộc sống tốt đẹp, Ngày hoài niệm thanh danh sói, Gặp Mai nương của Trì Lợi đều là những tác phẩm hay. Cũng nhờ vào nhiều tác phẩm hay mà nhà văn Hồ Bắc trở nên sáng giá. Dùng thực tế sáng tác làm bước đệm, sáng tác tiểu thuyết của nhà văn Hồ Bắc không sớm thì muộn sẽ hiện hữu và được vinh danh. Những cuốn tiểu thuyết Niên giám hồ Điểu Ni (Phương Phương), Nước và lửa quấn quít, Hễ sướng thì hét lên (Trì Lợi), Nỗi đau mất mát, Bầu trời rộng lớn (Lưu Tinh), Cửa thiên thánh (Tam Quyển Bản), Nhớ tới thảo nguyên, Nhớ về một nơi chưa từng qua, Một đóa hoa không thể không nở, Giang sơn (Đặng Nhất Quang), v.v… là kết quả gặt hái quan trọng trong sáng tác tiểu thuyết của nhà văn Hồ Bắc.

Cuốn tiểu thuyết 4 tập Trương Cư Chính của Hùng Chiêu Chính được giải thưởng văn học Mao Thuẫn đã trở thành một tiêu chí cho sự phát triển của tiểu thuyết Hồ Bắc những năm gần đây. Hùng Chiêu Chính sinh năm 1953, người Anh Sơn (Hồ Bắc). Trương Cư Chính viết về nhân vật truyền kỳ Trương Cư Chính thời Minh Vạn Lịch, qua đó khắc họa cuộc đấu tranh chính trị quân quyền đầy phức tạp và tàn khốc. Tác phẩm này đã đưa tác giả lên vũ đài văn đàn những năm đầu thế kỷ mới.

Nhưng lấy truyền thống hiện thực trong văn học làm thước đo thì nhà văn Hồ Bắc không hề yên phận như vậy, dù là sáng tác “tân tả thực” hay “làn sóng xung kích” đều mang hơi thở mới của chủ nghĩa hiện thực. Chủ nghĩa hiện thực thấm sâu vào sáng tác của các nhà văn trẻ như Lưu Kế Minh, Trương Chấp Hạo, Lý Tu Văn… Nhưng các nhà văn trẻ không chỉ dừng lại đó mà còn dùng khí chất “tiên phong” phá vỡ kết cấu chủ nghĩa hiện thực đơn nhất.

Tiểu thuyết của Trương Chấp Khiết, Lý Tu Văn càng theo đuổi chủ nghĩa hiện thực và sự thể nghiệm theo đuổi nghệ thuật trong sáng tác… khiến cho sáng tác tiểu thuyết Hồ Bắc mang nét đặc sắc của chủ nghĩa hiện thực và phong cách ổn định, lành mạnh, vì thế thể hiện sắc thái khác biệt. Sự tiếp xúc thân mật giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa hiện đại thúc đẩy sự hình thành một loạt tác phẩm viết về Thần Y Giá của Trần Ứng Tùng.

Xuất thân từ nhà thơ với các tác phẩm Điệu nhảy cuối cùng của con báo, Chim Tùng nha vì sao hót, Vọng Lương Sơn, Huyết án núi Mã Tư, Sự kiện chó điên, v.v… khiến Trần Ứng Tùng được liệt vào hàng ngũ nhà văn quan trọng của thế kỷ mới. Mạc Ngôn đánh giá rằng, “Trần Ứng Tùng dùng ngôn ngữ giàu cá tính, tạo nên một thế giới nghệ thuật giàu sắc thái đầy rẫy ma quỷ và ảo tưởng. Thế giới đó xây dựng nên Thần Y Giá nhưng là Thần Y Giá siêu việt. Điều đó thuộc về vương quốc của anh, cũng là một điểm sáng trong bức tranh văn học Trung Quốc”.

Hồ Bắc nằm ở giao giới giữa miền Nam và miền Bắc nên đã tiếp nhận văn hóa cả hai miền Nam, Bắc khiến văn học Hồ Bắc mang đầy đủ yếu tố truyền thống và hiện đại. Nội dung sáng tác của văn học Hồ Bắc liên quan đến cả các phần tử tri thức và tầng lớp dưới. Cho nên, dung hợp là đặc điểm nổi bật trong sáng tác của các nhà văn Hồ Bắc.

2. Nhóm nhà văn Quảng Tây

Đông Tây

Quảng Tây vốn không phải là vùng đất nổi bật về sáng tác văn học nhưng quan điểm đó đã bị lung lay mấy năm gần đây bởi các “kiếm khách” Đông Tây, Quỷ Tử, Lý Phùng, Tân Di Ổ…, trong đó Đông Tây, Quỷ Tử, Lý Phùng là “ba kiếm khách” khá nổi bật. Các vị đó không những thành danh mà còn có thành tựu phi phàm khiến cho tiềm năng và tiềm lực sáng tác của nhà văn Quảng Tây được khai phá và được giới văn học Trung Quốc nhìn nhận. Năm 1997, Đông Tây giành được giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần đầu, sau đó năm 2001, Quỷ Tử giành được giải thưởng Văn học Lỗ Tấn lần 2.

Sau Cuộc sống không lời, Đông Tây lại có mấy tác phẩm Không cần hỏi tôi, Cô nhi của thời đại, Ánh mắt càng kéo càng dài, Đoán đến tận cùng, v.v… về cơ bản đều khá ưu tú. Sau khi Quỷ Tử có tác phẩm Dòng sông bị ướt, các tác phẩm khác như Ruộng lúa trống ở thành phố, Ánh sáng hạnh phúc, Cô bé ngáp ngủ buổi sáng đều được độc giả và các nhà phê bình chú ý. Lý Phùng từng lấy tư thế “tiên phong” bước lên văn đàn, dùng lịch sử làm tư liệu chủ yếu trong sáng tác cho nên tác phẩm của anh nằm giữa “tiên phong” và “lịch sử”. Những tác phẩm như Võ Tòng đánh hổ, Tôn Hành Giả, Khổng Tử, Triều Đường, Tôi là một phiến đoạn sống của anh hùng Võ Tòng, v.v… đều được độc giả ưa thích.

Tân Di Ổ

Tân Di Ổ là nữ tác gia trẻ mới nổi của Quảng Tây. Tiểu thuyết của cô khá thành công khi viết về đề tài thành xuân, tình yêu đôi lứa và cuộc sống gia đình. Là nhà văn nữ nên ngôn ngữ trong tác phẩm của cô tràn đầy nữ tính, cốt truyện cũng rất nữ tính. Anh có thích nước Mỹ không nói về quá trình trưởng thành của một cô gái, thất bại liên tiếp trong tình trường. Mối tình đầu bỏ cô đi Mỹ, mối tình thứ hai cũng vậy. Cứ tưởng rằng những chàng trai của mình là “hoàng từ hành tây”, nhưng cuối cùng mối tình đầu đã quay về với cô. Hóa ra anh vẫn ở đây là một tác phẩm khác của cô. Câu chuyện tình yêu ở đây như khắc cốt ghi tâm, nhưng thường phải trải qua thăng trầm và trả giá rồi con người mới biết được giá trị đích thức của tình yêu là gì. Đọc tác phẩm của Tân Di Ổ, chúng ta thấy trong đó là những mối tình chân thành, đẹp đẽ. Chỉ có tình yêu, con người mới có cuộc sống đích thực, mới là chính mình, mới có chốn đi về, mới yên ổn. Các tác phẩm của Tân Di Ổ khiến người ta suy nghĩ nhiều về tình yêu và sự vĩnh hằng của tình yêu.

Trong những năm gần đây, văn học Quảng Tây có nhiều thay đổi, có ích cho sự lựa chọn đặc biệt của các nhà văn trẻ. Sau đây là một số đặc điểm của văn học Quảng Tây trong những năm đầu thế kỷ mới:

Thứ nhất, văn học Quảng Tây xóa bỏ sự ngăn cách khu vực, không những kiên trì quan niệm sáng tác văn học Quảng Tây truyền thống và đứng vững ở Quảng Tây mà còn mở rộng tầm nhìn đến văn đàn Trung Quốc đương đại. Tuy Quảng Tây nằm ở miền Tây Trung Quốc, một số nhà văn Quảng Tây rời khỏi vùng đất này nhưng vẫn lấy phong tục tập quán nơi đây để theo đuổi sắc thái bản địa, đưa kinh nghiệm đời sống bản địa vào sự thể nghiệm nhân sinh hiện nay, thử đồng thời theo đuổi hiện thực và hình thái tiểu thuyết hiện đại.

Giống như Quỷ Tử nói trong Dòng sông bị ướt mưa rằng, câu chuyện là hiện đại, nhưng mô thức và bối cảnh ngôn ngữ lại bảo đảm tính tự sự hiện đại”. Cho nên, phần lớn tác phẩm của anh đều không quá đậm nét dấu ấn địa phương mà thể hiện rõ tính hiện đại. Có một nhà phê bình phân tích rằng, “thứ nhất, sự thức tỉnh ý thức tự giác trong sáng tác tiểu thuyết, tiêu chí của nó là từ phê phán “mối quan hệ sinh thái” xã hội chuyển hướng sang phê phán “mối quan hệ sinh thái”; thứ hai, sự tự thức tỉnh ý thức tự sự ngôn ngữ, tiêu chí của nó là có một loạt tiểu thuyết mang nét đặc sắc của ngôn ngữ Lĩnh Nam đặc biệt, vừa là ý thức ngôn ngữ hiện đại”. Đó chính là nguyên nhân quan trọng khiến giới phê bình và độc giả chú ý đến nhóm nhà văn Quảng Tây những năm gần đây.

Tác phẩm Ánh sáng hạnh phúc của Quỷ Tử cũng được đạo diễn Trương Nghệ Mưu đưa lên màn bạc.

Thứ hai, phá bỏ rào cản văn học, kết giao với điện ảnh, tìm phương thức truyền bá nhà văn và tác phẩm một cách hữu hiệu, tăng cường mức độ nổi tiếng. Tác phẩm Cuộc sống không lời của Đông Tây do tác giả tự chuyển thể thành phim Người yêu trên trời và đã giành được giải thưởng điện ảnh Tokyo lần thứ 15. Nhà văn còn căn cứ vào tác phẩm cùng tên của mình chuyển thể thành bộ phim nhiều tập Ánh sáng bên vành tai cũng được trình chiếu rộng rãi trên toàn quốc. Tác phẩm Ánh sáng hạnh phúc của Quỷ Tử cũng được đạo diễn Trương Nghệ Mưu đưa lên màn bạc. Còn tác phẩm Thiếu nữ ngáp buổi sáng đã được đạo diễn Trần Khải Ca nhằm trúng. Tác phẩm Ghi chép tìm súng của nhà văn Phàm Nhất Bình cũng được chuyển thể thành phim Tìm súng. Sau này, tác phẩm Quỳ xuống, Người thợ cắt tóc của anh cũng được đưa lên màn bạc và anh cũng vì những bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của mình mà trở nên nổi tiếng. Nhờ điện ảnh mà nhiều nhà văn Quảng Tây đạt được danh lợi song toàn. Cũng nhờ điện ảnh mà địa vị của nhóm nhà văn Quảng Tây được nâng lên một tầm cao mới.

3. Nhóm nhà văn Hồ Nam

So với thời kỳ cực thịnh thập niên 80 của thể kỷ XX, gần đây, nhóm nhà văn Hồ Nam ngày càng có xu hướng “tản cư”. Tàn Tuyết và Hàn Thiếu Công đã lần lượt định cư ở Bắc Kinh và Hải Nam; Tân Tú Thịnh Khả Dĩ và Lý Sỏa Sỏa lần lượt làm khách ở Thâm Quyến và Quảng Châu; Diêm Chân ẩn mình nơi học viện; Vương Dược Văn đi vào thế giới điện ảnh. Sau khi Đường Hạo Minh tuyên bố cuốn tiểu thuyết Trương Chi Đồng là tác phẩm cuối cùng của mình thì cũng dự định chuyên tâm vào học vấn. Giới văn học Hồ Nam cấp thiết lên tiếng “chấn hưng”, nhưng Hồ Nam không thiếu nhà văn có tâm huyết, vẫn xuất hiện nhiều sát thủ văn học với phong cách sáng tác mới, vượt qua cả những nhà văn huy hoàng trong thập niên 80 của thế kỷ trước. Tiểu thuyết của nhà văn Hồ Nam vẫn đa dạng về phong cách và đạt nhiều thành tựu về phương diện đề tài.

Hàn Thiếu Công

Là một trong những người đề xướng “văn học tầm căn”, Hàn Thiếu Công không vì phiêu bạt ở Hải Nam hay ẩn cư ở Bạc La mà dừng chấp bút. Sau Từ điển Mã Kiều (1996), gần đây Hàn Thiếu Công lại xuất bản Ám thị (2009) và nhiều tùy bút tư tưởng. Từ điển Mã Kiều cũng giống như Ám thị, là sự tiếp tục thưởng thức phương diện ngôn ngữ văn học với thể loại tiểu thuyết. Đương nhiên, điều quan trọng hơn là, chính Hàn Thiếu Công nói rằng, cuốn sách “lý tưởng hóa tiểu thuyết” đó dùng phương thức tiểu thuyết và tùy bút để gửi gắm tư tưởng nghiên cứu của tác giả về nhiều vấn đề lý luận văn học. Ngoài sáng tác, Hàn Thiếu Công còn dịch một số tác phẩm văn học, có cách nhìn đặc biệt về ngôn ngữ văn học, được Bộ văn hóa Pháp trao giải thưởng Văn học kỵ sĩ nước Pháp.

Tàn Tuyết

Tàn Tuyết sinh năm 1953 tại Trường Sa, tên thật là Đặng Tiểu Hoa, người Lỗi Dương (Hồ Nam), cùng thời với các nhà văn Mã Nguyên, Cách Phi, Mạc Ngôn, Tô Đồng, Dư Hoa… Cha Tàn Tuyết từng chủ nhiệm tờ Hồ Nam mới, mẹ cô cũng từng làm báo và cả hai người đều là đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc lâu năm. Năm 1957, khi Tàn Tuyết mới 4 tuổi, cha mẹ cô bị quy vào Cánh hữu chống Đảng. Cha bị đưa đi lao động cải tạo, gia đình cô rơi vào cảnh túng quẫn. Năm 1966, cuộc Cách mạng Văn hoá bắt đầu khi cô 13 tuổi, mang thân phận “con gái của Cánh hữu”, nên mặc dù chưa tốt nghiệp tiểu học, Tàn Tuyết cũng phải bỏ ngang bởi không chịu nổi sự khinh ghét của mọi người. Cũng từ đó, cô trở nên trầm lặng, ít nói, tìm niềm an ủi trong các tác phẩm kinh điển trong nước, phương Tây, và bắt đầu viết nhật kí. Ngoài môi trường sách vở thì bà nội của Tàn Tuyết cũng là người góp phần quan trọng vào việc hình thành phong cách nghệ thuật đặc biệt của cô sau này.

Bà thường kể cho Tàn Tuyết những gì do chính bà viết và những câu chuyện mang màu sắc kỳ lạ. Năm 17 tuổi, cô vào công xưởng học nghề tiện. Tám năm sau, Tàn Tuyết lập gia đình, hai người ra ở riêng, tự học may vá và trở thành thợ may nổi tiếng ở Trường Sa. Lúc rảnh rỗi, cô vẫn tập sáng tác tiểu thuyết, thơ ca. Năm 1983, Tàn Tuyết hoàn thành tác phẩm đầu tay Chợ Hoàng Nê, nhưng khi ấy, cô chưa dám công bố. Rồi hai năm sau, lần đầu tiên cô đăng truyện ngắn Bọt xà phòng trên nước bẩn trên tờ Tân sáng tác và Tàn Tuyết chính thức bước vào làng văn với truyện ngắn Căn nhà nhỏ trên núi năm 1985. Sau đó, hàng loạt tác phẩm của cô được đăng trên các tờ Nhân dân văn học, Phù dung, Văn học nguyệt san Trung Quốc... và Tàn Tuyết dần trở thành một tiểu thuyết gia hàng đầu trong “Tiên phong phái” của văn học Trung Quốc đương đại.

Tàn Tuyết không chỉ có ảnh hưởng trong nước, mà ngay từ cuối những năm 80, cái tên Tàn Tuyết đầy ấn tượng đã rất quen thuộc với nhiều nước trên thế giới, như: Đài Loan (1987), Mỹ (1989), Nhật (1991), Ý (1991), Đức (1996), Pháp (2000), Anh… Theo thống kê, cô là nhà văn nữ của Trung Quốc có tác phẩm được dịch ở nước ngoài nhiều nhất. Cùng với hàng trăm tiểu thuyết (cả truyện ngắn và truyện vừa), Tàn Tuyết còn dành nhiều thời gian cho việc bình giải tác phẩm của các văn hào như: Lỗ Tấn, Franz Kafka, Dante, Borges, Goethe, Shakespeare… Và có lẽ, người có ảnh hưởng sâu sắc nhất, gần gũi nhất với cô là Kafka. Có người nói, muốn hiểu Tàn Tuyết, trước hết phải hiểu những nhà văn ấy, đặc biệt là Kafka.

Hầu hết tác phẩm của Tàn Tuyết là cuộc thâm nhập, khám phá bản thân, thế giới tâm linh, thế giới của những xung đột nội tâm, sự cô đơn, sự sợ hãi, dục vọng… trong cõi tiềm thức, vô thức của con người. Đó là những yếu tố cơ bản nhất trong sáng tác của Tàn Tuyết và cũng là những cái, mà theo cô, văn học truyền thống Trung Quốc còn thiếu. Tuy vậy, thế giới ảo tưởng trong tác phẩm Tàn Tuyết không hề thoát ly khỏi thế giới hiện thực bên ngoài mà tràn đầy hơi thở của cuộc sống. Trong tác phẩm của Tàn Tuyết không có các vị anh hùng, các bậc thánh nhân; cũng không có kẻ “đại gian, đại ác”, mà thường là những con người cô đơn, bé nhỏ, bất hạnh, là “hiện thực”. Có điều, sự sáng tạo, kết cấu, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm Tàn Tuyết không theo những quy tắc, khuôn mẫu thông thường, mà luôn luôn nỗ lực vượt lên để tạo ra sự đột biến nghệ thuật, làm cho những trường cảnh thường nhật trở nên kì lạ, hoang liêu, phi lí song lại có vẻ đẹp rực rỡ, lay động tâm hồn con người.

Về góc độ ngôn từ, các tác phẩm của Tàn Tuyết có vẻ như bình dị, đơn giản, rất cô đọng nhưng lại có những kết cấu hết sức kì lạ, như những giấc mơ, ảo ảnh và trùng trùng điệp điệp các tầng nghĩa. Tàn Tuyết có sở trường dùng sự phi lý khai thác tâm linh con người. Sau tác phẩm Ngõ vị hươngNgười tình cuối cùng, Tàn Tuyết được mệnh danh là nhà văn theo “chủ nghĩa hiện thực chân chính” đương đại. Cũng giống như viết tiểu thuyết, Tàn Tuyết dường như cũng dày công viết tùy bút. Trong những năm đầu thế kỷ, Tàn Tuyết liên tục có tác phẩm ra đời như Người độc hành trong địa ngục (Nxb. Tam Liên, 2003), Thành lũy linh hồn (Nxb. Văn nghệ Thượng Hải, 2004), Sự rèn luyện sống mãi (Nxb. Văn nghệ Tháng Mười Bắc Kinh, 2004) và tập ghi chép phỏng vấn Để báo thù viết tiểu thuyết (Nxb. Văn nghệ Hồ Nam, 2003), v.v… Có lẽ, do giỏi đi vào tâm hồn của những bạn đọc tầm cỡ kinh điển, cho nên Tàn Tuyết tuy là nhà văn của “văn học tiên phong” thời kỳ thoái trào nhưng vẫn kiên trì với sáng tác nội tâm, vẫn giữ được thái độ “tiên phong”. Tàn Tuyết tuy không học qua đại học chính quy nhưng do hiểu biết rộng, sớm đọc nhiều tác phẩm văn học phương Tây nên tác phẩm của cô đã đạt đến độ cao thâm, sáng tác của cô cũng khá phong phú tư tưởng triết học.

Trên văn đàn Hồ Nam gần đây còn xuất hiện một số cái tên khá quen thuộc như Vương Dược Văn, Diêm Chân… Vương Dược Văn được độc giả biết đến bởi tác phẩm Quốc họa; Diêm Chân đặt chân lên văn đàn bởi tác phẩm Nước trên ngọn sóng. Hai tác giả này kế tục tiểu thuyết “quan trường” truyền thống thời Vãn Thanh, mở ra “quy tắc tiềm ẩn” trong chốn quan trường, cung cấp kiểu “nhật ký hiện hình quan trường”.

Tiếp tục theo đuổi nhân tố mới mà không rời bỏ truyền thống là nguyên nhân quan trọng khiến nhà văn Hồ Nam luôn đổi mới và phát triển. Nhà văn Hồ Nam kế thừa truyền thống “văn học Tương quân”, “sự quan tâm đến hiện thực nhân sinh, sinh thái sinh tồn nhân sinh và vận mệnh con người xuyên suốt trong các sáng tác của mình”. Các tác phẩm như Câu chuyện của Mai Thứ (Vương Dược Văn), Nạn lũ lụt (Lưu Xuân Lai), Cá chết đuối (Đào Thiếu Hồng), Con đê hình rồng (Hướng Bản Quý), Chuyến du lịch hoang dã (Hà Đốn), v.v… đều là những tác phẩm viết về đề tài hiện thực những năm gần đây của nhà văn Hồ Nam.

Nếu như nói nhà văn Hồ Nam chịu ảnh hưởng của nội hàm văn hóa Trung Nguyên thì sắc thái văn hóa của nhà văn Hồ Nam chính là kết quả từ sự lựa chọn của bản thân nhà văn. Mấy vị nhà văn ưu tú nhất của văn học Hồ Nam đều là những tác gia học giả, trai phòng và họ chủ yếu đào sâu về đời sống hàng ngày. Họ không giống các nhà văn lớp trước, quá chú ý đến nhân tố văn hóa. Đường Hạo Minh ban đầu theo học lịch sử, sau này trở thành tiểu thuyết gia lịch sử. Các tác phẩm của anh như Tăng Quốc Phiên, Dương Độ, Trương Chi Đồng càng có nội hàm văn hóa lịch sử. Tác giả đứng trên lập trường văn minh, tiến bộ xã hội, vừa thừa nhận vừa phê phán các phần tử tri thức và văn hóa dân tộc, đồng thời còn đưa ý niệm lịch sử vào tác phẩm với mục đích xem lại kết cấu chỉnh thể của thế giới, không ngừng kích hoạt, đề cao nội hàm của sự thực lịch sử vốn có trong bản thân đề tài, khiến cho các hình tượng nghệ thuật như Tăng Quốc Phiên, Trương Chi Đồng, Dương Độ có tính hiện thực và tính lịch sử cao độ.” Diêm Chân là giáo sư của Học viện văn học Đại học Trung Nam. Với tư cách vừa là nhà nghiên cứu văn học, vừa là tác giả sáng tác văn học, cho đến nay anh mới chỉ có hai tác phẩm Từng ở đường chân trờiNước trên con sóng nhưng đã có ảnh hưởng lớn trên văn đàn Hồ Nam, từng giành được giải thưởng Văn học đương đại năm 2001. Năm 2002, Diêm Chân được liệt vào hàng ngũ nhà văn lớn tiến bộ nhất, là “nhân vật văn học Trung Hoa” năm 2002.

Từ bề dày vốn sống và tri thức phong phú khiến một loạt nhà văn Hồ Nam có những tác phẩm “nặng ký”. Đó là hy vọng để chấn hưng đội quân văn học Hồ Nam năm xưa.

Phương Hiền (Nguồn: Văn nghệ Trẻ)

Bookaholic tìm kiếm Ngôi sao cho team Hoa, Hàn, Nhật

About Truong May

Truong May
Xách keyboard lên và lượm lặt

Check Also

Mr. Bu Không Phải Idol Của Tôi – Meng Qi Qi

“Mr. Bu không phải idol của tôi” ghi lại những câu chuyện vụn vặt đời …