Home / Cảm thức / Con chim Joong bay từ A đến Z: Từ Chiến Tranh đến Hòa Bình

Con chim Joong bay từ A đến Z: Từ Chiến Tranh đến Hòa Bình

Tôi sẽ vẫn giữ nguyên quan điểm riêng của mình rằng, tiểu thuyết “Màu rừng ruộng”, được viết cách đây hơn mười năm (2006), vào cái lúc nhà văn Đỗ Tiến Thụy còn “bị” gọi là “tác giả trẻ”, mới thật là tác phẩm gây ấn tượng mạnh hơn cả về văn chương của anh. Chứ không phải tiểu thuyết “Con chim joong bay từ A đến Z”, xuất bản năm ngoái (2017) và hiện vẫn còn đang tỏa sức nóng trên văn đàn (Bài viết “Ruộng, Rừng, và hành trình đời người”. Đã đăng trên “Tinh hoa Việt”, số ra ngày 23/ 3/ 2018)

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là tôi phủ nhận “Con chim joong bay từ A đến Z”. Hơn mười năm cho một tiếp nối tiểu thuyết, sau cú đầu tay, hẳn phải là một cái gì đó đáng kể, ít nhất, với chính người viết. Trong trường hợp Đỗ Tiến Thụy, đó là hơn mười năm anh nỗ lực tự tháo dỡ mình, tự phá vỡ mình để tìm kiếm thêm cho mình một cách viết khác, một cái viết khác, trên con đường tiểu thuyết vốn chẳng thiếu những hứa hẹn thành công rất đỗi mờ mịt mông lung. Và nỗ lực ấy đã tựu thành trong “Con chim joong bay từ A đến Z”. Với cá nhân tôi, “Con chim joong…” rõ ràng đã là một Khác của Đỗ Tiến Thụy, nếu so với “Màu rừng ruộng”.

Cái khác dễ nhận thấy nhất ở đây là cái khác thuộc về phạm trù tự sự học. Nếu “Màu rừng ruộng” là tiểu thuyết đơn tuyến, chỉ có duy nhất một giọng kể của nhân vật người kể chuyện giấu mặt, cốt truyện vận động (mở rộng, tiến lên, ngoặt rẽ) hoàn toàn dựa trên hành động và chuyển dịch của một nhân vật chính/ trung tâm, thì “Con chim joong…” là tiểu thuyết đa tuyến, đan xen ba giọng kể – của người kể chuyện giấu mặt, của con chim joong, và của khẩu đại liên sót lại từ hồi chiến tranh – để làm thành một cốt truyện rất phong nhiêu. (Đến mức, sự rậm rạp của “chuyện” ở tiểu thuyết này đã khiến một nữ phê bình gia phải nghĩ đến những cuộc… buôn chuyện nơi quán nước vỉa hè, nghĩa là chúng ngồn ngộn, chen chúc, chồng lấn xô đẩy nhau, rối bời như không thể đưa vào trật tự). Thời gian của truyện kể trong “Con chim joong…” cũng liên tục được đảo chiều giữa quá khứ và hiện tại, chiến tranh và hậu chiến, tạo nên một kiểu thời gian phức tạp hơn nhiều so với kiểu thời gian tuyến tính mà tác giả đã triển khai trong “Màu rừng ruộng” của hơn mười năm trước. Tuy nhiên, nếu tất cả chỉ có thế, chỉ là gia tăng kỹ thuật tự sự thôi (đa bội hóa giọng kể, phi tuyến tính hóa thời gian) thì ắt là chúng ta sẽ không có mấy chuyện để bàn về tiểu thuyết “Con chim joong…” của Đỗ Tiến Thụy. Vì những kỹ thuật tự sự như thế, từ lâu rồi, vốn đã không phải thứ của hiếm trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đương đại.

Vấn đề đáng nói ở đây là Đỗ Tiến Thụy đã tìm ra được nội dung đích đáng cho những kỹ thuật tự sự, nhất là trên phương diện đa bội hóa giọng kể. Tôi thậm chí có thể khẳng định: để cho con chim joong và khẩu đại liên trở thành nhân vật người kể chuyện là một sáng tạo khá độc đáo của anh. Trước hết hãy nói về con chim joong. Trong tiểu thuyết của Đỗ Tiến Thụy, con chim joong xuất hiện như một đại diện của rừng già, một “người rừng” bị cưỡng bách xa rời cuộc sống tự do, vốn thuộc về tự nhiên, để phải chịu sự giam hãm trong không gian gia đình thành thị với những mối quan hệ chằng chéo đầy bó buộc. Tuy thế cái chất “người rừng” của nó không mất đi. Con mắt “người rừng” của nó – cũng có thể nói là con mắt trẻ thơ –  luôn mở to để quan sát, ghi nhận và đánh giá thế giới xung quanh. Và nó luôn không hết ngạc nhiên trước mọi việc xảy ra trong gia đình “người phố”.

Sự ngạc nhiên ấy, là phản ứng của cái tự nhiên hồn hậu thuần khiết trước những cái nhân vi, ngụy tạo, đa đoan, đầy bất trắc. Chỉ có nó, bằng con mắt người rừng/ trẻ thơ ấy, mới thấy: “Ánh mắt ông chủ nguội như tro bếp hoang, thương thương. Ánh mắt bà chủ sắc khoằm như vuốt quạ, sờ sợ. Ánh mắt cậu chủ nhơn nhớt như sên lá, ghê ghê. Người có mắt không đổi là cụ chủ, khô nhăn như mắt voi, hiền lành, nghiêm nghiêm. Người có ánh mắt thay đổi liên tục là cô Xoan. Lúc vui như nắng, lúc buồn như sương”. Chỉ có nó mới thấy khi cụ Tướng viết hồi ức tổng kết chiến tranh, thì: “Chữ như nhựa chứa từ một thân tùng cổ thụ hết ngày này này qua ngày khác”.

Chỉ có nó mới thấy cụ Tướng an nhiên thế nào khi viết, với những yếu tố gốc thiên nhiên bao quanh: ngôi nhà phủ đầy cây và hoa rừng; cụ Tướng ngồi viết, chân gác lên lưng một thằng Ỉn (lợn rừng), vai cụ đậu một thằng joong (vẹt rừng). Cũng chỉ có nó mới chứng kiến đủ cảnh huống của bi hài kịch gia đình khi cụ Tướng quyết tâm điều tra vạch mặt các trò tham những, ăn của đút của con gái và cháu ngoại. (Họ đã không ngán ngại bán đứng uy tín của cụ, coi cha, ông mình như một món hàng để có thể tha hồ hốt bạc.

Điều ấy có nghĩa gì? Là không giống với ông “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, cụ Tướng của Đỗ Tiến Thụy là hưu tướng nhưng không chịu hưu nhiệt huyết, không chịu hưu hoạt động, và nhất là không chịu hưu tầm ảnh hưởng xã hội của mình. Cụ chẳng thể một ngày không làm tướng, bất kể thời chiến hay thời bình. Trong mạch vận động của cốt truyện ở thì hiện tại, xét cho cùng, đây mới chính là yếu tố quyết định mọi diễn biến tiếp theo). Và vì là một cá thể vẹt, con chim joong đương nhiên bắt chước tiếng nói của những người chủ mà nó lần lượt qua tay.

Nhưng cùng với hành vi bắt chước mang tập tính loài có vẻ rất đỗi bình thường ấy, con joong đã được Đỗ Tiến Thụy kiến tạo như một cái máy nhại, một giọng nhại, và trong nhiều trường hợp, giọng nhại ấy lại bật ra, vang lên như một giọng giễu đầy tinh thần trào tiếu, hài hước. Nhại để giễu, và để lật tẩy, có thể nói vậy. Nó nhại màn tỏ tình của anh chàng kiểm lâm: “Khovilon”. Nó nhại những hình chum dáng trống của các mệnh bà lúc tập nhảy hòng níu giữ chút nhan sắc cuối mùa: “Bà chủ xinh đẹp”. Nó “sếp sáng suốt” khi cậu Gấu thuyết với cụ Tướng về quan điểm thực dụng của thanh niên thời nay. Nó “Việt Nam không làm được đâu” khi quyết tâm diệt trừ tham nhũng của cụ Tướng và các đồng chí đang dâng cao ngùn ngụt.

Cái giọng nhại ấy của con chim joong, ở từng trường hợp, từng mức độ, có thể được người đọc diễn giải theo nhiều cách. Nhưng dĩ nhiên, ngay cả trong trường hợp nó rành rành là báng bổ, thì có lẽ cũng chẳng ai lại đi bắt lỗi… một con chim?

Còn với khẩu đại liên M134, có thể nói, đó thực sự là một nỗ lực của Đỗ Tiến Thụy trong việc tìm một cách viết/ diễn giải khác về chiến tranh, cái “đề tài” khiến cho hầu hết các nhà văn quân đội thuộc thế hệ anh ai cũng luôn đau đầu với câu hỏi “phải viết như thế nào?”. Tuy xuất hiện với dung lượng chỉ bằng 1/5, 1/6 dung lượng giọng kể của con chim joong, nhưng cùng với những mảng hồi ức của cụ Tướng và của ông Chủ – qua giọng kể của người kể chuyện giấu mặt – giọng kể của khẩu đại liên đã góp phần dựng lên trong cuốn tiểu thuyết một chiến tranh tanh máu, được kế tiếp bằng một hòa bình đầy rối ren hỗn loạn. Khẩu đại liên M134 xứng đáng là một đại diện huy hoàng của chiến tranh, của Thần Chết, bởi vì nó được làm ra là để dùng trong và cho chiến tranh, để hủy diệt sinh mạng người, và hủy diệt với một sức mạnh khủng khiếp: “Họ đại liên nói chung ăn khỏe, trong đó dòng M134 ăn khỏe nhất, vì có tới sáu họng, có thể ăn tới sáu ngàn miếng một phút, nghĩa là tôi có thể chén sáu ngàn mạng người một phút theo lý thuyết, hoặc hơn thế nữa, bởi răng tôi có thể xuyên táo chục thân người một lúc”. Đó cũng là thứ sức mạnh hủy diệt đã bị mù lòa và thú hóa.

Mù lòa, vì có rơi vào tay bất cứ kẻ nào sử dụng, nó cũng vẫn điềm nhiên khạc đạn, lạnh lùng, không một mảy may thương xót. Còn thú hóa, vì Đỗ Tiến Thụy đã không để cho nó yên với thân phận một cỗ máy, mà anh cho nó cái cảm giác sục sôi điên cuồng của một con quái vật luôn thèm khát xé toang thân thể con người bằng những chiếc răng/ viên đạn, để được nếm mùi tươi nguyên của xương thịt máu huyết. “Khoái cảm tột đỉnh của súng là dùng răng đâm xuyên thịt người”. Khẩu đại liên M134, trong cuộc đời chiến tranh tàn khốc và nhiều biến thiên của nó, đã từ sáu cái họng thần chết ấy mà găm không biết bao nhiêu những chiếc răng/ viên đạn tử thần vào thân thể của bộ đội Bắc Việt và du kích miền Nam Việt Nam, cả thường dân già trẻ gái trai, cả lính Hoa Kỳ, lính Hàn Quốc và thậm chí cả tàn quân Khơ-me đỏ. Khẩu đại liên M134, tự nó, nó không gọi hành động khạc đạn là bắn, mà nó gọi là “ăn”. Lính trận với nó, bất kể bên nào, đều chỉ là những con mồi. Nó ăn những con mồi của mình và tự mình cảm nhận, tự mình đánh giá sự khác nhau giữa các kiểu loại xương thịt.

Đây, nó ăn những người lính cộng sản: “Tôi ăn tim. Những quả tim trai tơ bị răng tôi xuyên qua máu vót ra nóng rãy. Máu người Việt ít hồng cầu, có vị mặn chát của hỗn hợp muối biển trộn đậu nành, cơm mốc, cà pháo và rau muống. Tôi ăn óc, mũ cối Trung Quốc không ngăn nổi răng tôi, những hộp sọ vỡ tóa, óc bung trắng hệt những bắp hệt những bắp cải nổ tung dưới nắng…” Và đây, nó ăn những người lính Hoa Kỳ: “Răng tôi phá tan lưng lính Mỹ. Xương người Mỹ to nhưng xốp. Răng tôi bửa đầu lính Mỹ. Óc người Mỹ không to hơn óc người Việt, nhưng khác là bán cầu trái to hơn bán cầu phải, nhiều nếp nhăn, có mùi hoa lá của những trang trại mênh mông cùng vị của những câu chuyện kinh dị, giả tưởng, hoang đường. Răng tôi xuyên qua tim lính Mỹ. Máu người Mỹ đặc, nhiều hồng cầu, có vị mặn nguyên chất của muối đại dương” v.v…

Rõ ràng, từ quan điểm của một khẩu đại liên, chiến tranh dường như chẳng hề liên quan gì đến những xung đột ý thức hệ, những đối địch niềm tin tôn giáo, những tranh chấp quyền lợi chính trị hay kinh tế, những đụng độ về lý tưởng hay danh dự, phẩm giá v.v… Mà nó chỉ là một cơn mê sảng chết chóc vĩ đại đã trở thành một hiện thực điên rồ. Một diễn trường tuyệt vời cho con người tha hồ lao vào lấy mạng nhau trong nỗi say máu cuồng loạn đến mức mụ mị. Chỉ để dâng lên Thần Chết một đại tiệc tử thi. Đấy chính là chiến tranh trong giọng kể của khẩu đại liên M134, được sản xuất ở bang Ohio, nước Mỹ. Một khẩu súng máy có thể nghĩ khác sao?

Con chim joong bay từ A đến Z” của Đỗ Tiến Thụy, theo tôi (và nếu không ngại phải lặp lại L. Tolstoi) có lẽ cũng chính là con đường từ chiến tranh đến hòa bình của xứ sở này trong hơn nửa thế kỷ qua. Một con đường chưa bao giờ bằng phẳng. Không phải chỉ trong những năm tháng chiến tranh, mà ngay bây giờ, khi chiến tranh chỉ còn hiện diện bằng những nhắc lại kèm theo vô vàn cờ hoa và khẩu hiệu. “Hỡi những chàng dũng sỹ, hãy quyết đấu đi!”. Đó là lời của con chim joong ở cuối cuốn sách. Nó lại nhại (sử thi), thêm một lần nữa…

HOÀI NAM (Tinh hoa Việt)

About NXB Trẻ

NXB Trẻ
Nhà xuất bản Trẻ là một đơn vị chuyên xuất bản và phát hành sách nhiều thể loại có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 2006 trở về trước, tên gọi nhà xuất bản Trẻ chỉ đơn vị được thành lập năm 1986; nhưng sau đó đến nay, cái tên này dùng để nói đến Công ty TNHH một thành viên Nhà xuất bản Trẻ, đơn vị xuất bản hợp nhất của nhà xuất bản Măng Non (thành lập năm 1981) và nhà xuất bản Trẻ cũ, có chủ sở hữu là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đây là một trong những đơn vị sớm nhất ký và tuân thủ Công ước Berne năm 2003.

Check Also

Văn Mới 5 Năm 2011-2015 – Nhiều tác giả

Mỗi năm, một tuyển tập Văn Mới lại ra mắt bạn đọc, gồm những tác …

error: Nội dung được bảo vệ !!